Lao động xuất khẩu ở Malaysia: Rủi ro và Hạn chế


2008.03.06

Nhã Trân, phóng viên đài RFA

Tình trạng của lao động xuất khẩu người Việt ở Malaysia được biết đến trong thời gian gần đây sau nhiều hậu quả bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa công nhân và chủ doanh nghiệp. Căn nguyên của những mâu thuẫn này là gì và công nhân Việt phải đối mặt với những khó khăn nào bên xứ người? Nhã Trân tìm hiểu và trình bày.

WorkerMalaysia200.jpg
Công nhân ngoại quốc ăn trưa trong giờ nghỉ tại một xưởng làm ở Kuala Lumpur hôm 7-3-2007. Photo AFP

Hơn 100 ngàn công nhân VN ở Malaysia

Cuối năm 2003 chương trình xuất khẩu lao động sang Malaysia được đề xuất sau khi Bộ Nhân lực Malaysia và Bộ Lao động-Thương binh-Xã hội Việt Nam ký văn bản về tuyển dụng lao động Việt Nam vào xứ bạn.

Với thẩm định rằng lao động người Việt cần cù, sáng tạo chính phủ Malaysia từ đó mở cửa tiếp đón nhiều đợt thanh niên nam nữ đến từ phía đối tác.

Kể từ năm 2004 đến giờ Malaysia được kể là thị trường tâm điểm trong 4 thị trường truyền thống về xuất khẩu lao động của Việt Nam, bên cạnh Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc.

Có mặt trên tất cả 13 bang của Malaysia và là lực lượng nhân công lớn thứ nhì sau Indonesia, công nhân Việt làm việc cho vô số công ty quốc tế hoặc tầm vóc.

Đến nay số lao động người Việt tại xứ này đã lên đến khoảng 120 ngàn và Việt Nam không ngừng xuất khẩu nguồn nhân công của mình vào thị trường quen thuộc này.

Nhiều phiền phức, mâu thuẫn

Công nhân được đưa đến Malaysia qua các đường dây môi giới. Thế nhưng, vấn đề xuất khẩu lao động qua Malaysia có nhiều phức tạp, và hiện có dấu hiệu cho thấy lao động người Việt ngày càng mất tin tưởng ở thị trường này.

Khởi đầu, vào năm 2003 hơn 700 công nhân ngành xây dựng đã phải bỏ về nước tuy chưa hết hạn hợp đồng. Những năm kế đó liên tiếp xảy ra nhiều vụ mâu thuẫn giữa lao động Việt và doanh nghiệp ở Malaysia.

Lý do nào khiến lao động người Việt ở Malaysia có những phản ứng tiêu cực trong khi làm việc nơi xứ người? Phía lao động cho hay nguyên nhân chính là vì vấn đề tiền lương. Anh Điềm, công nhân đang cư trú ở đảo Penang, giải thích: (xin theo dõi trong phần âm thanh phía trên)

Từ trước đến nay tỉ lệ lao động người Việt ở nước ngoài bỏ trốn, rời việc trước kỳ hạn luôn chiếm mức cao nhất so với lao động đến từ các quốc gia khác.

Cục trưởng Cục Quản lý Lao động Ngoài nước Nguyễn Thanh Hòa hồi năm 2005 cho rằng căn nguyên của vấn đề là chi phí ra nước ngoài làm việc quá lớn.

Thật vậy, để được qua xứ khác làm việc, lao động luôn phải trả mọi thứ phí được yêu cầu. Công nhân phải chịu gánh nặng hàng chục thứ phí như phí môi giới, tiền đặt cọc, phí đào tạo, phí giới thiệu việc, phí làm hồ sơ và hộ chiếu, cùng nhiều loại phí dịch vụ khác.

Thuộc thành phần nghèo, đa số đến từ nông thôn, họ thường phải thế chấp nhà cửa ruộng vườn, sổ đỏ, vay mượn đầu này đầu kia mới có thể chi nổi mọi thứ. Thêm vào đó, mức lương thường thấp hơn số đã ký trong hợp đồng, mà lại còn bị trừ đầu trừ đuôi.

Theo thông tin của giới thẩm quyền Việt Nam, trứơc nay có tới hàng trăm ngàn lao động xuất khẩu được ngân hàng cho vay tín chấp. Thế nhưng, theo thực tế những công nhân được hỏi nói gia đình họ hoàn toàn phải tự cáng đáng lấy, thường lên đến hàng triệu đồng mỗi đầu người: (xin theo dõi trong phần âm thanh phía trên)

Dù vậy, thu nhập không phải là nguyên do chính khiến công nhân Việt ở Malaysia phải điêu đứng. Bên cạnh tiền lương, nhiều vấn đề khác đã khiến lao động chán nản.

Trước hết là tình trạng thiếu việc làm, từ đó dẫn đến thiếu giờ làm, và thiếu giờ làm đồng nghĩa với tiền lương bị sút giảm. Nhiều công ty không cung cấp được đầy đủ giờ theo hợp đồng, đã để mặc công nhân ngồi nhà mất lương, hoặc dần dà mất hẳn việc.

Cũng có trường hợp nhiều doanh nghiệp “bán” công nhân lòng vòng qua các doanh nghiệp khác để giải quyết tình trạng thiếu việc làm. Điều này tạo ra cảnh lao động bị buộc làm những nghề không chuyên, gây thêm khó khăn cho họ.

Kế đó là hành vi hoặc cách đối xử của chủ công ty. Có những chủ doanh nghiệp thu hồi hộ chiếu của công nhân, “quên” gia hạn visa, không lo giấy cư trú hoặc không cấp thẻ lao động khiến rất nhiều công nhân bị bắt giam oan uổng vì bị xem là bất hợp pháp.

Nói về tình trạng ăn ở, công nhân thường phải tập trung tại những lưu xá. Đa phần đây là những căn hộ chật hẹp, xô bồ so với số người cư trú, điều kiện vệ sinh thì tồi tệ. Nhiều chủ công ty, đã không đủ giờ làm cho công nhân như hợp đồng lại còn cắt điện, cắt nước hoặc đuổi thẳng công nhân khỏi nơi cư ngụ.

Tệ hại hơn nữa, những lao động tự nguyện xin trở về nước vì đã tuyệt vọng với hoàn cảnh bên xứ người nhiều khi còn phải đóng thêm tiền cho công ty môi giới.

Hàng trăm người bị đột tử

Ngoài những thiệt thòi về vật chất và tinh thần như lương và điều kiện sống quá tồi tệ, lao động người Việt ở Malaysia có khi còn gặp một rủi ro nguy hại hơn, đó là mất mạng vì bị trấn lột, đòn thù, hay vì những lý do khác.

Theo số liệu của một vài tờ báo như Tuổi Trẻ Online, chỉ nội trong năm 2007 đã có ít nhất 100 lao động thiệt mạng trong thời gian lưu trú tại Malaysia, nguyên nhân chưa rõ. Các trừơng hợp này được gọi chung là “đột tử,” với những triệu chứng bị xem là triệu chứng bất thường.

Các điều kiện lao động xuất khẩu Malaysia, như vừa kể, dẫn đến hậu quả là lao động Việt Nam mất tinh thần và chỉ mong được trở về nước. Trong khi thời hạn hợp đồng thường là 3 năm, thông tin của giới thẩm quyền Việt Nam đầu năm nay cho biết có gần 10% lao động hồi hương trước thời hạn, sau khi chỉ mới làm việc được trên dưới 1 năm.

Trên thực tế, dư luận cho là con số này có thể nhiều hơn. Những người chúng tôi hỏi thăm thì nói rất nhiều anh chị em công nhân muốn được hồi hương vì không còn chịu đựng nổi hoàn cảnh khó khăn bên xứ người.

Hồi năm 2005 Cục phó Cục Quản lý Lao động Ngoài nước Vũ Đình Toàn từng tuyên bố với báo chí trong nước rằng Malaysia là thị trường trọng điểm, là hướng để xóa đói giảm nghèo đối với Việt Nam.

Các trình bày của nhiều công nhân cho thấy lao động xuất khẩu Malaysia không còn sức thu hút như trước.

Đầu năm nay, một tổ chức quốc tế về chống nghèo, hoạt động tại hơn 40 quốc gia trên thế giới, tên gọi ActionAid International, công bố kết quả nghiên cứu sau một thời gian dài, cho hay hiện có gần 60% lao động xuất khẩu của Việt Nam lâm vào cảnh nợ nần vì các chi phí để được ra nước ngoài làm việc.

Nhận xét

Bạn có thể đưa ý kiến của mình vào khung phía dưới. Ý kiến của Bạn sẽ được xem xét trước khi đưa lên trang web, phù hợp với Nguyên tắc sử dụng của RFA. Ý kiến của Bạn sẽ không xuất hiện ngay lập tức. RFA không chịu trách nhiệm về nội dung các ý kiến. Hãy vui lòng tôn trọng các quan điểm khác biệt cũng như căn cứ vào các dữ kiện của vấn đề.